1. Nguyên nhân gây bệnh

Virus gây bệnh là một thành viên thuộc giống Aquareovirus, họ Reoviridae. Reovirus có cấu trúc chất liệu di truyền là ARN sợi kép không có vỏ bọc.

Chỉ gây bệnh ở cá Trắm cỏ, Trắm đen và các mè, đối với các loài cá khác hiện chưa có công bố phát hiện bệnh.

2. Một số đặc điểm dịch tễ

Phân bố: Bệnh được xác định xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1972 tại phía Nam, Trung Quốc. Tại Việt Nam, bệnh này được công bố lần đầu tiên vào năm 1994, kể từ đó bệnh nhanh chóng lan rộng và là một trong những bệnh nguy hiểm nhất cho các mô hình nuôi cá Trắm cỏ.

Lây truyền: Mầm bệnh thường lây lan mạnh theo trục ngang thông qua môi trường nước. Mầm bệnh virus chủ yếu từ cá bệnh và cá mang virus. Cá bệnh sau khi chết, virus phát tán ở trong nước, các chất thải của cá mang virus và cá bệnh bao gồm phân, dịch bài tiết và nhớt ngoài thân đều có virus tồn tại, động vật thuỷ sinh khác nhiễm virus như: ốc trai, ếch và động vật phù du… đều có thể truyền virus qua dòng nước.

Giai đoạn mắc bệnh: Bệnh này có thể xảy ra ở tất cả các giai đoạn phát triển của cá, có kích thước tuy nhiên bệnh thường xảy ra ở giai đoạn cá giống (6-25 cm).

Mùa vụ: Bệnh xuất huyết của cá Trắm cỏ là bệnh của nước ấm. Thông thường phát bệnh khi nhiệt độ nước từ 25 – 32oC (gây ra tỉ lệ chết cao khoảng nhiệt độ từ 25-28oC), khi thấp dưới 23oC và cao hơn 35oC bệnh rất ít phát sinh hoặc không phát bệnh.

Ở Việt Nam, bệnh thường xuất hiện vào cuối Xuân đầu Hè (tháng 3 đến tháng 5), mùa Thu (từ tháng 8 đến tháng 10) khi nhiệt độ nước 25-30oC bệnh xuất hiện nhiều và gây cá chết hàng loạt.

3. Một số biểu hiện lâm sàng của bệnh

Tuỳ theo mức độ tiến triển của bệnh và thường diễn biến ở hai thể bệnh,

Thể cấp tính: phát triển rất nhanh và trầm trọng, cá bị bệnh sau 3-5 ngày có thể chết, tỷ lệ chết lên đến 80%, nhiều ao/ lồng tỉ lệ chết có thể lên đến 100 %. Bệnh xuất hiện chủ yếu ở cá giống cỡ 4 – 25cm, đặc biệt cá giống cỡ 15-25cm (tương đương 0,3-0,5 kg/con) mức độ nghiêm trọng nhất khi nuôi ở mật độ dầy như cá lồng và ương cá giống.

Thể mạn tính: phát triển tương đối chậm, cá chết rải rác, bệnh xuất hiện trong suốt mùa phát bệnh, cá chết không có đỉnh cao rõ ràng. Bệnh mạn tính thường xuất hiện ở ao cá giống diện tích lớn nuôi thưa và với ao nuôi cá thịt có trọng lượng trên dưới 1 kg/ con.

Quan sát bên ngoài bên ngoài: Da cá tối màu, cá nổi lờ đờ trên tầng mặt. Khi có hiện tượng cá chết, mắt lồi và xuất huyết, mang nhợt nhạt, nắp mang, vây xuất huyết. Nhìn chung dấu hiệu bệnh bên ngoài không thay đổi lớn.

Hình 1: Cá trắm cỏ xuất huyết do virus

Hình 2: Các biểu hiện lâm sàng của cá bị xuất huyết do virus

Quan sát bệnh tích mổ khám: Bóc da cá bệnh nhìn thấy các đốm hoặc đám cơ đỏ xuất huyết, bệnh nặng, cơ toàn thân xuất huyết đỏ tươi, đây là dấu hiệu đặc trưng thường thấy của bệnh.

– Xoang bụng xuất huyết, trong xoang cơ thể, gan (Gan xuất huyết có đốm màu trắng hoặc chuyển mầu trắng), thận, lá lách xuất huyết, ruột cục bộ hoặc toàn bộ xuất huyết màu đỏ thẫm, thành ruột còn chắc chắn, không hoại tử, ruột không có thức ăn.

Hình 3: bệnh tích xuát huyết cở cơ và các nội tạng của các mắc bệnh xuất huyết do virus

Chú ý quan trọng

– Một trong những dấu hiệu lâm sàng quan trọng nhất của cá bệnh là hiện tượng xuất huyết cơ dưới da.

– Ruột không có thức ăn, thành ruột xuất huyết nhưng không hoại tử (thành ruột còn tương đối chắc chắn, không thối nát).

– Cá Trắm cỏ bị bệnh trên hai tuổi xuất huyết không rõ ràng, thường gặp xuất huyết đường ruột. Bệnh kết hợp với bệnh viêm ruột do vi khuẩn làm cho ruột hoại tử và chứa hơi.

Hình 4: Sự khác nhau giữa bệnh xuất huyết do virus và vi khuẩn

4. Phương pháp kiểm soát dịch bệnh

Phương pháp phòng bệnh:

(1) Hiện nay chưa có phương pháp hiệu quả để ngăn chặn dịch bệnh do vi rút gây ra. Vì vậy, mọi giải pháp để kiểm soát bệnh này là tập trung vào công tác phòng bệnh, bao gồm: (

Sử dụng Apex care CLEAN khử trùng nguồn nước và đáy ao, liều lượng 400 – 600g/1000m2, lặp lại sau 7 – 15 ngày

Sử dụng Apex care BOTTOM xử lý đáy ao kiểm soát môi trường đáy và vi sinh vật có hại, liều lượng 200 – 300g/100m2

(2) Tăng cường sức đề kháng cho cá bằng vitamin và các hoạt chất tăng cường hệ miễn dịch của cá; 

Sử dụng Apex Care LIVER giúp tăng cường miễn dịch và cải thiện chứng năng gan tăng hiệu quả chăn nuôi với liều 3 – 5g/kg thức ăn, dùng liên tục 3 – 5 ngày, sau 15 ngày lặp lại 1 liệu trình

(3) Giảm thiểu tối đa các hiện tượng sốc do môi trường, do đánh bắt và vận chuyển cá… hoặc sốc do mật độ nuôi cao.

Phương pháp kiểm soát khi cá nuôi bị bệnh:

(1) Loại bỏ ngay những con chết và yếu (thiêu hủy / chôn hủy), không vứt bỏ cá bệnh ra ngoài môi trường;

(2) Xử lý môi trường nước bằng phương pháp phun hóa chất xuống ao nuôi (ví dụ: phức hợp Iodine, Glutaraldehyte) hoặc treo túi hóa chất đối với khu lồng-bè để tiêu diệt và ngăn ngừa sự lây lan của mầm bệnh trong môi trường nuôi;

(3) Sử dụng vitamin C, chất tăng cường hệ miễn dịch (Beta-glucan) cho ăn liên tục 7-10 ngày;

(4) Sử dụng sản phẩm thảo (các sản phẩm có thành phần chiết xuất từ tỏi, nghệ…) dược để cho cá ăn theo khuyến cáo của nhà sản xuất;

Sử dụng Apex Care VIMIN giúp kháng stress, tăng cường miễn dịch và bổ sung vitamin thiết yếu cho cá, liều sử dụng 3 – 5g/kg thức ăn, liên tục 3 – 5 ngày, lặp lại sau 15 ngày

(5) Đối với ao nuôi, sử dụng men vi sinh đáy để tạo lại hệ vi sinh có lợi cho ao nuôi sau khi hết hiệu lực của thuốc sát trùng.

Sử dụng Apex Care WATER cải thiện chất lượng nước, kiểm soát các khí độc NH3, NO2, bổ sung vi sinh có lợi, kích tảo có lợi và kiểm soát tảo gây hại. Liều lượng 250g/1000 – 1200m3 nước, sử dụng lặp lại sau 7 – 15ngày hoặc sử dụng sau khi xử lý chất sát trùng 1 -2 ngày.

MỘT SỐ SẢN PHẨM NỔI BẬT CỦA CÔNG TY CP QUỐC TẾ UNI VET

UNI VET Animal Heath Team

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *